Tin tức sự kiện
Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt: Chặng đường hỗ trợ Trẻ khuyết tật VN
18/04/2017 10:37
                            TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT: CHẶNG ĐƯỜNG HỖ TRỢ TRẺ KHUYẾT TẬT VIỆT NAM

                                                                                                                                   PGS.TS Phạm Minh Mục
                                                                                                      Giám đốc TT Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt, Viện KHGDVN
Đặt vấn đề

Trẻ khuyết tật (TKT) là một trong những đối tượng trẻ em gặp nhiều khó khăn nhất trong học tập, phát triển và hòa nhập cuộc sống. Làm thế nào tất cả TKT được giáo dục và giáo dục có hiệu quả? Giáo dục thế nào để TKT phát triển hết khả năng, tiềm năng của mình để trở thành những người tự lập và có những đóng góp cho cộng đồng xã hội? Đó là những câu hỏi mà các nhà khoa học thuộc lĩnh vực giáo dục đặc biệt cần nghiên cứu tìm câu trả lời.

1.Quá trình hình thành và phát triển chuyên ngành giáo dục học sinh khuyết tật
Tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đặc biệt là Tổ Tật học thuộc Ban Tâm lý, Viện Nghiên cứu Giáo dục được thành lập vào giữa những năm 70 của thế kỷ trước. Ban có 15 cán bộ quản lý và nghiên cứu, với 100% đội ngũ cán bộ được đào tạo chính qui ở các trường đại học có uy tín trên thế giới, đúng chuyên ngành và phần lớn đã có kinh nghiệm từ thực tiễn, đã đặt nền móng cho sự phát triển của ngành Giáo dục đặc biệt (GDĐB) của Việt Nam.
Năm 2001, Khoa Giáo dục đặc biệt đầu tiên của Việt Nam được thành lập ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong những năm tiếp theo, hàng loạt các trường đại học và cao đẳng sư phạm đã thành lập khoa hoặc tổ Giáo dục đặc biệt. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của các khoa Giáo dục đặc  biệt  cũng đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của ngành.
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (KHGDVN) trong những năm gần đây đã đào tạo được hàng chục tiến sỹ Giáo dục học và Tâm lý học với đề tài nghiên cứu về GDĐB; Khoa Giáo dục đặc biệt, trường Đại học Sư phạm Hà Nội là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam mở mã ngành đào tạo thạc sỹ khoa học giáo dục đặc biệt và đến nay đã đào tạo được 73 thạc sỹ. Đến thời điểm này, Việt Nam ước tính có hàng trăm cán bộ nghiên cứu sâu về chuyên ngành GDĐB, trong đó có 01 GS và 05 PGS.

2. Một số nghiên cứu chính và kết quả
Nghiên cứu thử nghiệm và triển khai mô hình giáo dục TKT: Mô hình giáo dục chuyên biệt và mô hình giáo dục hòa nhập (GDHN);
Nghiên cứu về mô hình can thiệp sớm (CTS) giáo dục TKT;
Nghiên cứu về mô hình hỗ trợ GDHN: Trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN và phòng hỗ trợ GDHN, mô hình ứng dụng Khoa học giáo dục đặc biệt trong phát hiện sớm và hỗ trợ trực  tiếp cho trẻ em khuyết tật;
Nghiên cứu các luận cứ khoa học cho việc ban hành chính sách cho người khuyết tật và giáo dục người khuyết tật;
Nghiên cứu các giải pháp quản lý giáo dục TKT, các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng giáo dục TKT.

2.1. Các nghiên cứu về mô hình giáo dục TKT

2.1.1. Nghiên cứu về giáo dục chuyên biệt           
Tại Việt Nam, giáo dục chuyên biệt cũng đã có lịch sử phát triển trên một trăm năm (từ năm 1886), hiện nay có trên 100 cơ sở giáo dục theo mô hình chuyên biệt. Các trường chuyên biệt chính là nơi có thể tiếp nhận những học sinh khuyết tật nặng không thể tham gia chương trình GDHN, đồng thời cũng là nơi nghiên cứu thử nghiệm và rèn luyện những kĩ năng đặc thù, chuyên sâu cho những đối tượng học sinh khuyết tật khác nhau và giáo viên dạy TKT. Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, Viện KHGDVN đã nghiên cứu xây dựng Chương trình giáo dục chuyên biệt dành cho các đối tượng học sinh khiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ (nay dùng thuật ngữ khuyết tật trí tuệ) cấp tiểu học. Kết quả của những nghiên cứu trên là hàng nghìn học sinh khuyết tật được học tập, lĩnh hội được những kiến thức, có được các kĩ năng cơ bản để tiếp tục học lên các cấp học cao hơn hoặc học nghề và hòa nhập cộng đồng.
Qua thời gian, các chương trình giáo dục chuyên biệt nói trên đã trở nên lạc hậu, không còn đáp ứng được nhu cầu của người học, đặc biệt, với quan điểm các cơ sở giáo dục chuyên biệt phải là nơi trang bị và hình thành cho TKT những kĩ năng tiên quyết, kĩ năng cơ bản để các em tham gia chương trình GDHN thì chương trình cũ không thể đáp ứng. Vì lý do đó, Viện KHGDVN đã chủ động đề xuất với Bộ GD&ĐT cho phép nghiên cứu và xây dựng Chương trình giáo dục chuyên biệt cấp tiểu học. Chương trình đã được Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT ban hành tháng 12 năm 2010. Cùng với nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục chuyên biệt nói trên, các nhà khoa học đã công bố nhiều kết quả nghiên cứu mang tính định hướng, hướng dẫn thực hiện chương trình.

2.1.2. Nghiên cứu về mô hình GDHN
Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (UNICEF, Radda Barnen – Thụy Điển, CRS - Hoa Kỳ), Viện KHGDVN đã nghiên cứu thử nghiệm mô hình GDHN tại một số xã ở miền Bắc và miền Trung của Việt Nam, kết quả nghiên cứu thử nghiệm đã chứng minh được tính ưu việt của mô hình GDHN. Với những thành công của nghiên cứu thử nghiệm được công bố tại Hội nghị toàn quốc về giáo dục TKT tháng 10 năm 2001 ở Vũng Tàu, nguyên cố Thứ Trưởng Bộ GD&ĐT Lê Vũ Hùng đã đề xuất lấy GDHN làm định hướng chính giải quyết vấn đề giáo dục TKT của Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu trên, hàng loạt kết quả (sách chuyên khảo, giáo trình, sách tham khảo, các bài báo khoa học,…) ra đời[1]. Những tài liệu trên đã được sử dụng trong đào tạo đại học, sau đại học của Viện KHGDVN, các trường đại học, học viện, được các nhà quản lý, giáo viên trực tiếp dạy học học sinh khuyết tật sử dụng.

Tiết học hòa nhập


2.2.Nghiên cứu can thiệp sớm cho TKT           
Hiểu được vai trò và ý nghĩa của CTS trong giáo dục TKT, các nhà khoa học thuộc nhiều đơn vị khác nhau đã có hàng loạt các đề tài nghiên cứu về xây dựng mô hình CTS cho các đối tượng TKT khác nhau, như: mô hình CTS dựa vào cộng đồng, mô hình CTS tại gia đình, mô hình CTS tại các trường mầm non. Các mô  hình trên đã được vận dụng có hiệu quả ở nhiều tỉnh thành trên toàn quốc, điển hình như: tỉnh như Hà Giang, Hải Dương, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội,… Các nghiên cứu này đã chứng minh được tính cần thiết và tính hiệu quả của mô hình CTS TKT. Kết quả của những nghiên cứu trên là hàng nghìn TKT đã được phát hiện và can thiệp kịp thời, được phát triển và nay đang học hòa nhập có hiệu quả ở các cấp học khác nhau, nhiều em đã trưởng thành và đã có những đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
 
2.3.Nghiên cứu về mô hình Trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN và phòng hỗ trợ GDHN
Giáo dục hoà nhập TKT được Bộ GD&ĐT xác định như là con đường chính thực hiện các chỉ tiêu giáo dục cho TKT. Tuy nhiên, việc đảm bảo chất lượng giáo dục trong giáo dục và dạy học hoà nhập còn có những hạn chế như: giáo viên chưa được trang bị những kiến thức và kĩ năng để giải quyết những vấn đề hàng ngày đặt ra về áp dụng các kĩ năng đặc thù, giải quyết những tình huống cụ thể; nhà trường gặp khó khăn trong việc huy động TKT, tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp; phụ huynh học sinh gặp khó khăn trong chăm sóc, giáo dục và phối hợp với các phụ huynh khác; các nhà quản lí giáo dục các cấp thiếu cơ quan tham mưu, thiết kế, xây dựng kế hoạch,... Đáp ứng nhu cầu trên, từ năm 1999 với sự hỗ trợ của Tổ chức Cứu trợ và phát triển – Hoa Kỳ (CRS) và Radda Barnen – Thụy Điển, Viện KHGDVN đã nghiên cứu thử nghiệm xây dựng mô hình Trung tâm hỗ trợ GDHN ở huyện Thường Tín - Hà Nội và Thanh Ba - Phú Thọ. Đồng hành với các nghiên cứu thử nghiệm mô hình Trung tâm, Viện cũng đã nghiên cứu thử nghiệm chuyển đổi thành công trường giáo dục chuyên biệt thành mô hình Trung tâm hỗ trợ phát triển (HTPT) GDHN. Tiếp theo những kết quả nghiên cứu đã đạt được, một số Trung tâm mới đã được thành lập, một số trường chuyên biệt đã được chuyển đổi thành Trung tâm, những trung tâm này vừa có chức năng như trường chuyên biệt, vừa có chức năng, nhiệm vụ hỗ trợ các trường hòa nhập trên địa bàn, tư vấn cho phụ huynh và cộng đồng về chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tât.
Ngoài các nghiên cứu về Mô hình Trung tâm HTPT GDHN, các nhà nghiên cứu đã phối kết hợp với các tổ chức quốc tế (điển hình là tổ chức CRS), các chương trình, dự án của Bộ GD&ĐT đã nghiên cứu thử nghiệm mô hình phòng hỗ trợ GDHN trong các trường mầm non và phổ thông. Đã có hàng trăm các phòng hỗ trợ GDHN được hình thành và đi vào hoạt động trong phạm vi các Dự án hợp tác với CRS và trong Chương trình phát triển giáo dục Trung học của Bộ GD&ĐT.
Sự ra đời của các Trung tâm hỗ trợ phát triển (HTPT) GDHN và Phòng hỗ trợ GDHN đã thực sự phát huy được vai trò tư vấn hỗ trợ cho các trường phổ thông có học sinh học hòa nhập, huy động trẻ đến trường, bồi dưỡng giáo viên, đánh giá và hỗ trợ trực tiếp học sinh khuyết tật, tư vấn cho phụ huynh học sinh,... Điển hình Trung tâm HTPT GDHN hoạt động có hiệu quả là ở các tỉnh Đắk Lắk, Vĩnh Long,... các Phòng hỗ trợ của các huyện Yên Mô, Yên Khánh – Ninh Bình, Hiệp Đức - Quảng Nam và hơn 60 Phòng hỗ trợ trong trường Trung học phổ thông.

2.4. Nghiên cứu các luận cứ khoa học cho việc ban hành chính sách cho người khuyết tật và giáo dục người khuyết tật
Để phục vụ cho công tác quản lý thì việc ban hành các chính sách, các văn bản qui phạm pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng. Các văn bản chính sách vừa là công cụ quản lý, vừa là các tiêu chí để đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ. Để tư vấn cho các cấp quản lý, các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục TKT đã tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng các văn bản chính sách qui định về giáo dục cho người khuyết tật. Chính vì vậy, rất nhiều sản phẩm của các công trình nghiên cứu đã vừa là cơ sở khoa học để đề xuất các chính sách, đồng thời được thể chế hóa vào Luật người khuyết tật, Nghị định của Chính phủ, Thông tư của ngành giáo dục, như: Mô hình GDHN, mô hình Trung tâm hỗ trợ GDHN, các tiêu chí đánh giá xếp loại TKT các cấp trong môi trường GDHN. Cụ thể ở đây có thể kể đến:
- Mô hình Trung tâm hỗ trợ GDHN đã được thể chế vào Luật về người khuyết tật năm 2010, Nghị định hướng dẫn Thực hiện các điều trong luật; Bộ GD&ĐT và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 58/2012/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH về hướng dẫn thành lập Trung tâm hỗ trợ phát GDHN; Mô hình phòng hỗ trợ GDHN được cụ thể hóa trong Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu.
- Về đánh giá học sinh khuyết tật được thể chế hóa trong Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT về đánh giá học sinh Trung học, Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT (nay là thông tư 22/2016 – BGDĐT) đánh giá học sinh tiểu học,...
- Ở cấp địa phương cũng đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chăm sóc và giáo dục học sinh khuyết tật.

Đối thoại về thực thi chính sách giáo dục hòa nhập
 
2.5. Nghiên cứu các giải pháp thực hiện giáo dục TKT, các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
TKTNhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh KT, các nhà nghiên cứu, giảng viên các trường đại học, cao đẳng đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về phương pháp giáo dục và dạy học cho các đối tượng học sinh các cấp học khác nhau, từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông. Kết quả các công trình nghiên cứu trên đã được Bộ GD&ĐT sử dụng làm tài liệu bồi dưỡng giáo viên trên toàn quốc. Tiêu biểu có thể kể đến các bộ tài liệu: Phương pháp giáo dục và đánh giá học sinh khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật trí tuệ, khuyết tật ngôn ngữ - giao tiếp cho học sinh Tiểu học và Trung học; các tài liệu về Phương pháp dạy học và đánh giá học sinh khuyết tật học tập (learning disabilites), tự kỉ, trẻ em đa tật (đồng thời có từ hai tật trở lên)...
Một số kết quả nghiên cứu cụ thể:
Hệ thống ký hiệu chữ nổi Braille (2004) được công bố. Trên cơ sở của kết quả nghiên cứu trên, Viện KHGDVN đã nghiên cứu chuyển đổi toàn bộ sách giáo khoa phổ thông sang sách giáo khoa chữ nổi cho học sinh mù.
2.300 kí hiệu ngôn ngữ tổng hợp cho người điếc đã được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2001 và hiện đang được tiếp tục nghiên cứu và xây dựng mới. Trên cơ sở đó hàng loạt tài liệu hướng dẫn thực hiện dạy học sinh điếc bằng giao tiếp tổng hợp đã được đưa vào vận dụng trong các nhà trường hòa nhập.
Một trong các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục HSKT là tiếp cận cá nhân, vì vậy đã có hàng loạt các nghiên cứu về hướng dẫn xây dựng và thực hiện KHGDCN cho các đối tượng học sinh khuyết tật khác nhau và các cấp học khác nhau đã được công bố. Trên cơ sở đó Bộ GD&ĐT đã có chỉ đạo cho tất cả các trường trên toàn quốc phải xây dựng KHGDCN cho học sinh ngay từ khi các em nhập học. Việc thực hiện giáo dục và đánh giá kết quả học tập cũng phải dựa trên KHGDCN của trẻ.
Hàng trăm băng hình minh họa về giáo dục học sinh khuyết tật các cấp, băng hình về thử nghiệm chương trình giáo dục từ xa cho học sinh khiếm thị, học sinh khiếm thính, ...
Tất cả các sản phẩm khoa học đã và đang được sử dụng rộng rãi ở các nhà trường từ mầm non đến phổ thông và là nguồn tài liệu phong phú dùng trong đào tạo đại học và sau đại học. 

Lời kết
Đối tượng học sinh khuyết tật có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, mức độ tật nặng hơn và phức tạp hơn. 
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả rất đáng khen ngợi trong công tác chăm sóc và giáo dục học sinh khuyết tật, tuy nhiên vẫn cần sự nỗ lực nhiều hơn nữa của các nhà quản lý giáo dục, các nhà khoa học và của các giảng viên, giáo viên dạy học học sinh khuyết tật nhằm đảm bảo quyền được tiếp cận nền giáo dục có chất lượng, tạo cơ hội và điều kiện để mọi trẻ em khuyết tật có cơ hội và điều kiện phát triển và hòa nhập xã hội.
Xin cảm ơn sự quan tâm của các cơ quan chức năng, các đơn vị chủ quản, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tạo điều kiện và cơ hội để nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu và các điều kiện để vận dụng vào thực tiễn.

[1]Trong số các nhà khoa học nghiên cứu về mô hình GDHN, tiêu biểu là GS.TS. Nguyễn Thị Hoàng Yến, PGS.TS. Lê Văn Tạc, PGS.TS. Nguyễn Đức Minh, PGS.TS. Nguyễn Xuân Hải và PGS.TS. Phạm Minh Mục, với hàng loạt các công trình về: Giáo dục TKT Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Xây dựng chương trình bồi dưỡng kĩ năng đặc thù cho giáo viên dạy học các nhóm khuyết tật khác nhau, GDHN học sinh khuyết tật, Quản lý GDHN, Phương pháp dạy học và đánh giá kết quả giáo dục học sinh khuyết tật Tiểu học, Trung học,....
Ý kiến bạn đọc